Tiến sĩ David McManus đi tìm câu trả lời liệu Reiki có tác dụng thực sự hay chỉ là giả dược bằng cách tổng hợp kết quả từ 13 nghiên cứu khác nhau về vấn đề này.
P1: Giới thiệu về nghiên cứu và tóm tắt kết quả
P2: Tác dụng của Reiki đến sinh lý học của cơ thể
Các nghiên cứu về khả năng hỗ trợ bệnh nhân mạn tính của Reiki
6)Nghiên cứu của Dressen và Singg (Subtle Energies Energy Med J Arch. 1998) về tác dụng của Reiki lên các bệnh nhân bị các chứng bệnh mạn tính. Thí nghiệm gồm 4 nhóm, mỗi nhóm 30 người: Nhóm Reiki – Nhóm giả Reiki – Nhóm thực hiện liệu pháp căng giãn cơ progressive muscle – Nhóm nghỉ ngơi kiểm soát. Reiki được thực hiện bởi 4 Reiki master theo session kéo dài 30ph với các động tác tay lên khắp cơ thể người tham gia, 2 lần mỗi tuần trong suốt 5 tuần. Kết quả cho thấy Reiki hiệu quả hơn các biện pháp khác trong việc giảm đau, giảm trầm cảm và trạng thái lo lắng ở các bệnh nhân bị bệnh mạn tính. Reiki cũng giúp tạo nên thay đổi tích cực trong tính cách của người bệnh bao gồm giảm lo lắng, làm tăng sự tự tôn cá nhân, tăng cường khả năng kiểm soát, giúp người bệnh có cảm giác được tự chủ tốt hơn.
7)Nghiên cứu Catlin và Taylor-Ford (Oncol Nurs Forum. 2011) nghiên cứu liệu Reiki có giúp các bệnh nhân ngoại trú đang hóa trị gia tăng sự thoải mái và sự mạnh khỏe toàn diện trong. Thí nghiệm gồm 3 nhóm với 63 người ở mỗi nhóm: Nhóm Reiki – Nhóm giả Reiki và Nhóm chăm sóc thông thường. Một y tá là Reiki master thực hiện buổi Reiki kéo dài 20ph. Kết quả cho thấy người bệnh ở cả nhóm Reiki và giả Reiki đều cảm thấy thoải mái và khỏe mạnh hơn trước và sau buổi hóa trị. Trong khi nhóm chăm sóc bình thường không ghi nhận thấy sự thay đổi nào của bệnh nhân. Các nhà nghiên cứu kết luận bằng Reiki không hiệu quả hơn giả Reiki và sự xuất hiện của một y tá chuyên trách bên cạnh giường bệnh nhân quan trọng hơn việc bệnh nhân có nhận được Reiki hay không.
8)Nghiên cứu Erdogan và Cinar (Indian J Tradit Knowledge. 2016) đánh giá hiệu quả của Reiki và trầm cảm ở những người cao tuổi sống ở các viện dưỡng lão. Thí nghiệm dùng 3 nhóm với mẫu 30 người mỗi nhóm: Nhóm Reiki – Nhóm giả Reiki và Nhóm kiểm soát bình thường. Reiki được thực hiện bởi một Reiki master trong 8 tuần, mỗi tuần 1 lần từ 45-60ph. Giả Reiki được thực hiện bởi 4 y tá chưa được đào tạo về Reiki nhưng đóng giả như đang làm Reiki. Nhóm kiểm soát không thực hiện biện pháp nào. Kết quả cho thấy nhóm Reiki giảm rất rõ rệt mức độ trầm cảm trong các tuần thứ 4, thứ 8 và thứ 12. Trong đó nhóm giả Reiki hay nhóm kiểm soát mức độ này là không có khác biệt. Nghiên cứu khẳng định Reiki có tác dụng giảm trầm cảm cho người già sống ở viện dưỡng lão.
9) Alarca˜o và Fonseca (Eur J Integr Med. 2016) nghiên cứu hiệu quả của Reiki lên chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thu máu. Nghiên cứu gồm 2 nhóm: Nhóm Reiki (mẫu 58 người) và Nhóm giả Reiki (mẫu 42 người). Mỗi buổi Reiki và giả Reiki đều kéo dài 60 phút, hai lần mỗi tuần trong suốt 4 tuần. Các phản hồi của bệnh nhân được đo bằng thang đo WHOQoL-Bref dùng trong y khoa gồm 26 câu hỏi đánh giá toàn diện 4 khía cạnh cuộc sống của người bệnh: Sức khỏe thể chất, Sức khỏe tinh thần, Các mối quan hệ cá nhân, Môi trường sống xung quanh. Kết quả cho thấy nhóm Reiki có cải thiện vượt trội ở cả 4 mục. Các bệnh nhân đều cảm thấy tốt hơn về chính bản thân mình, tình trạng thể chất, các mối quan hệ cá nhân và các giao tiếp với môi trường xung quanh đều cải thiện rõ.
Cả 4 thí nghiệm đều cho thấy Reiki có thể sử dụng như một liệu pháp bổ sung để kiểm soát các tình trạng đau mạn tính của bệnh nhân. 3 trong số 4 thí nghiệm kéo dài thời gian thực hiện, từ 1-2 buổi một tuần kéo dài đến 8 tuần liên tục. Trong 3 thí nghiệm Reiki cho kết quả tốt hơn giả dược, làm giảm lo lắng và trầm cảm, tăng lòng tự tôn và chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Chỉ có 1 thí nghiệm không tìm thấy sự khác biệt lớn giữa Reiki và giả Reiki. Nhưng thú vị là đây cũng là thí nghiệm duy nhất chỉ thực hiện Reiki 1 lần với thời gian thực hiện ngắn cho bệnh nhân hóa trị. Kết quả thí nghiệm cũng khó xác định vì chưa làm rõ công cụ và mức độ để đo lường sự “thoải mái” và “khỏe mạnh” của bệnh nhân.
